Thứ hai, ngày 19 tháng mười hai năm 2011

Bạch dạ hành (8)


8.
Vừa đọc bản tin thể thao, Tagawa Toshio vừa nhớ lại trận đấu tối qua, tâm trạng khó chịu lại một lần nữa cuộn trào lên. Đội Yomiuri Giants thua rồi thì thôi, vấn đề là quá trình trận đấu ấy.
Vào thời điểm quan trọng nhất, Nagashima lại mất tác dụng. Tay đánh số 4 xưa nay vẫn là trụ cột chống đỡ cho đội Giant luôn giành phần thắng, cả trận đấu hôm qua đều biểu hiện hết sức bình thường, khiến đám đông khán giả đều sốt hết cả ruột. Vào thời điểm cần thiết nhất, anh ấy nhất định sẽ không phụ lòng khán giả, đó mới là Nagashima Shigeo! Dù cú đánh có bị tiếp sát thì cũng phải đánh một cú khiến các fan thoả lòng, đó mới là bản lĩnh của Mr. Giant chứ!
Nhưng mùa bóng này lại rất bất bình thoừng.
Không, hai ba năm trước đã xuất hiện dấu hiệu rồi, nhưng Tagawa không muốn chấp nhận sự thực tàn khốc ấy, mới cố ý lờ đi đến tận bây giờ. Anh ta luôn tự nói với mình, chuyện này không thể xảy ra với Mr. Giant được. Thế nhưng, nhìn vào sự thực trước mắt, dù là một fan trung thành của Nagashima từ thuở thiếu thời như Tagawa cũng không thể không thừa nhận, bất cứ ai đến một ngày nào đó cũng phải già đi, dù là tuyển thủ tài năng nỏi tiếng đến mấy, cũng sẽ  có ngày phải rời xa sân bóng.
Nhìn bức ảnh nhíu chặt lông mày sau khi bị “strike out” của Nagáhima, Tagaqua thầm nghĩ, có lẽ là năm nay rồi. Tuy mùa bóng mới bắt đầu, nhưng cứ theo đà này, không đến mùa hè, mọi người chắc sẽ bắt đầu xôn xao bàn tán chuyện Nagashima giải nghệ rồi. Nếu đội Giants không thể đoạt chức vô địch, việc này rất có khả năng sẽ trở thành định cục, Tagawa có một dự cảm chẳng lành, năm nay muốn giành chức vô địch thực sự quá khó. Tuy năm ngoái, đội Giants đã đạt kỷ lục vô địch chín lần liên tiếp với khí thế áp đảo, nhưng ai ai cũng thấy rõ như ban ngày, cả đội bóng đã bắt đầu xuất hiện trạng thái mệt mỏi, Nagashima chính là tượng trưng cho điều đó.
Lướt mắt xem qua bài báo nói về trận thắng của đội Chunichi Dragons xong, Tagawa gập báo lại. Anh ngước hìn đồng hồ trên tường, bốn giờ hơn rồi. Hôm nay chắc là không có khách nữa rồi, anh ta tự nhủ. Trước ngày phát lương, hiếm có người nào đến trả tiền thuê phòng.
Đang há miệng ngáp ruồi, anh ta chợt trông thấy phía sau cánh cửa kính dán thông báo thấp thoáng có bóng người. Nhìn cái chân lộ ra là biết không phải người lớn. Cái bóng ấy đi giày thể thao, Tagawa nghĩ, chắc là đứa học sinh nào đấy tan học về đứng lại đọc thông báo giết thời gian.
Nhưng mấy giây sau, cánh cửa kính mở ra. Một cô bé mặc áo chemise bên ngoài khoác áo len cài khuy ngước gương mặt trắng trẻo e dè bước vào, đôi mắt tròn to khiến người ta liên tưởng đến một giống mèo đắt giá gây cho Tagaqua ấn tượng sâu sắc, nhìn bộ dạng, có lẽ cô bé là một học sinh cuối cấp tiểu học.
“Có chuyện gì vậy?” Tagaqua hỏi, chính bản thân anh ta cũng cảm thấy giọng mình rất dịu dàng. Nếu người đẩy cửa bước vào là đám nhãi nhóc bẩn thỉu mặt la mày lét ở gần đấy, giọng anh ta chắc hẳn sẽ rất lạnh lùng hờ hững, không thể so với lúc này được.
“Chào chú ạ, cháu họ Nishimoto.”
“Nishimoto? Nishimoto nào nhỉ?”
“Nishimoto ở khu nhà Yasuda ấy ạ.”
Giọng cô bé trong veo, Tagawa nghe rất lạ tai. Lũ trẻ con mà anh ta quen biết toàn là những đứa cứ mở mồm ra liền khiến người ta biết ngay bọn chúng là  lũ xấc xược con nhà không gia giáo.
“Khu nhà Yasuda… à.” Tagawa gật gật đầu, rút ra tập hồ sơ ở giá sách bên cạnh. Khu nhà Yasuda có tám hộ gia đình, nhà Nishimoto thuê phòng 103 nằm ở chính giữa tầng một. Tagawa xác nhận nhà Nishimoto đã hai tháng chưa trả tiền nhà, cần phải gọi điện giục rồi. “Vậy là,” ánh mắt anh ta trở lại trên người cô bé, “cháu là con gái của chị Nishimoto?”
“Vâng ạ.” Cô bé gật đầu.
Tagawa xem lại bản đăng ký thuê nhà, chủ hộ nhà Nishimoto là Nishimoto Fumiyo, sống chung với con gái tên là Yukiko. Khi họ mới chuyển đến mười năm trước, còn có người chồng, nhưng không lâu sau đó thì anh ta đã qua đời.
“Cháu đến trả tiền thuê phòng à?” Tagawa hỏi. Nishimoto Yukiko cụp mắt xuống, lắc lắc đầu. Tagawa thầm nghĩ, biết ngay mà. “Vậy cháu có việc gì?”
“Cháu muốn nhờ chú mở cửa.”
“Mở cửa?”
“Cháu không có chìa khoá, không về nhà được, cháu không mang chìa khoá.”
“Ừm.” Tagawa rốt cuộc cũng hiểu cô bé muốn nói gì, “mẹ cháu khoá cửa ra ngoài rồi à?”
Yukiko gật đầu, nét mặt cô bé khi cúi đầu ngước mắt lên có một vẻ đẹp khiến người ta quên bẵng đi cô chỉ là một học sinh tiểu học, nhất thời, Tagawa cũng không khỏi lấy làm rung động. “Cháu không biết mẹ đi đâu à?”
“Không ạ. Mẹ cháu bảo hôm nay không đi đâu… nên cháu mới không mang chìa khoá theo.
“Ừm.” Tagawa nghĩ, tính sao nhỉ? Anh ta nhìn đồng hồ, lúc này mà đóng cửa thì sớm quá. Bố anh hôm qua đã đi thăm người thân, đến tối mới về. Nhưng cũng không thể đưa chìa khoá dự bị cho Yukiko được. Lúc sử dụng chìa khoá dự bị, nhất định phải có mặt người của công ty bất động sản Tagawa tại đó, đây là một điều khoản trong hợp đồng của họ và người sở hữu khu nhà cho thuê ấy. Đợi lát nữa mẹ cháu sẽ về thôi… nếu là lúc bình thường anh ta sẽ nói vậy, nhưng thấy nét mặt bất an của Yukiko đang nhìn chăm chăm vào mình, bảo anh ta thốt ra những lời hờ hững như vậy thực tình là rất khó.
“Được rồi, chú sẽ đi mở cửa hộ cháu. Đợi chút một lát.” Tagawa đứng dậy, bước lại gần két bảo hiểm để chùm chìa khoá dự bị của các căn nhà cho thuê.
Từ văn phòng bất động sản Tagawa đến khu nhà Yasuda mất chừng mười phút đi bộ. Tagawa Toshio liếc nhìn thân hình nhỏ nhắn của Nishimoto Yukiko bước đi trong con ngõ nhỏ được lát gạch một cách sơ sài. Yukiko không đeo cặp sách của học sinh tiểu học, mà chỉ xách một cái túi sách bằng nhựa dẻo màu hồng.
Mỗi khi chuyển động, trên người cô bé lại phát ra tiếng chuông đinh đinh đang đang. Tagawa lấy làm tò mò không biết đó là chuông gì, bèn để ý quan sát, nhưng nhìn bề ngoài không nhận ra được. Để ý cách ăn mặc của Yukiko, liền biết ngay cô bé không phải con nhà giàu có. Giày thể thao đã mòn vẹt, áo lông cũng xù lên, còn có mấy chỗ bị sút sợi nữa, cả chiếc váy kẻ ca rô cũng vậy, chất vải khá là cũ.
Mặc dù vậy, trên người cô bé này lại toát ra một thứ khí chất cao nhã mà trước đây Tagawa hiếm có cơ hội được tiếp xúc. Anh ta cảm thấy hết sức khó tin, tại sao lại như vậy chứ? Anh ta khá quen với mẹ của Yukiko, Nishimoto Fumiyo là một người đàn bà u uất chẳng có gì nổi bật, vả lại chị ta cũng giống như những người sống ở khu này, trong mắt lúc nào cũng thấp thoáng lộ ra vẻ thô lậu tầm thường. Cùng ăn cùng ở với một người mẹ như vậy, không ngờ cô bé lại vẫn như một đoá sen mọc giữa bùn, Tagawa không khỏi lấy làm kinh ngạc. “Cháu học trường nào thế? Tagawa đi phía sau hỏi.
“Trường tiểu học Oe ạ.” Yukiko không dừng bước chân, hơi ngoảnh mặt lại trả lời.
“Oe? À.” Tagawa thầm nghĩ, quả nhiên là vậy. Hầu hết trẻ con trong khu này đều học trường tiểu học công lập Oe, trường này mỗi năm đều có học sinh bị bắt vì tội trộm cắp, có mấy đứa vì chuyện của bố mẹ còn bỏ nhà ra đi lúc nửa đêm rồi mất tích. Buổi chiều đi qua đó, sẽ ngửi thấy mùi thức ăn thừa toàn rau với cơm, đến giờ tan học, sẽ có mấy tên không rõ lai lịch cưỡi xe đạp xuất hiện gạt tiền tiêu vặt của bọn trẻ. Chỉ có điều, trẻ con ở trường tiểu học Oe không ngây thơ đến nỗi bị đám lừa đảo vớ vẩn ấy gạt gẫm.
Nhìn khí chất của Nishimoto Yukiko, Tagawa thực sự không cho rằng cô bé sẽ học ở loại trường như thế, vậy nên mới mở miệng hỏi. Kỳ thực, chỉ cần nghĩ một chút, liền biết ngay với gia cảnh đó, cô bé không thể học trường tư được. Anh ta nghĩ, cô bé này ở trường hẳn là rất tách biệt với những đứa khác.
Đến khu nhà Yasuda, Tagawa đứng trước cửa phòng 103, gõ cửa mấy tiếng, rồi gọi “chị Nishimoto”, nhưng không ai trả lời. “Mẹ cháu hình như vẫn chưa về.” Anh ta nói với Yukiko.
Cô bé khẽ gật đầu, trên người lại vang lên tiếng chuông đinh đang.
Tagawa cắm chìa dự bị vào lỗ khoá, vặn sang bên phải, tiếng ổ khoá vang lên lách cách. Đúng vào khoảnh khắc ấy, một cảm giác dị thường bùng lên, dự cảm chẳng lành loé lên trong đầu. Nhưng Tagawa không để ý, tiếp tục vặn tay nắm, mở cửa ra.
Tagawa vừa bước vào phòng, liền nhìn thấy một người đàn bà đang nằm trong phòng kiểu Nhật phía bên trong. Chị ta mặc áo len màu vàng nhạt và quần bò, nằm ngang trên chiếu tatami, nhìn không rõ mặt mũi, nhưng chắc có lẽ là Nishimoto Fumiyo.
Làm cái gì vậy, rõ ràng là ở nhà… vừa nghĩ đến đây, Tagawa bỗng ngửi thấy một mùi lạ.
“Hơi ga! Nguy hiểm!”
Anh ta vội đưa tay ngăn Yukiko ở sau lưng đang muốn bước vào cửa, bịt chặt mũi miệng, rồi lập tức quay đầu sang nhìn kệ bếp bên cạnh. Trên bếp ga đặt một cái nồi, đang ở chế độ bật, nhưng không thấy ngọn lửa.
Tagawa nín thở vặn van ga tổng lại, mở cửa sổ phía trên kệ bếp, rồi đi vào phòng trong, vừa liếc nhìn Fumiyo đang gục người bên cạnh chiếc bàn thấp, vừa mở cửa sổ ra, sau đó thò đầu ra bên ngoài, há miệng hít thở mạnh, sâu trong óc vẫn cảm thấy tê tê.
Anh ta ngoảnh đầu lại nhìn người đàn bà, chỉ thấy sắc mặt tái xanh, lớp da đã hoàn toàn không còn sinh khí. Không cứu được rồi… trực giác cho anh ta biết điều đó.
Trong góc phòng có một chiếc điện thoại màu đen, Tagawa cầm ống nghe lên, bắt đầu quay số. Nhưng lúc này, anh ta lại do dự. Gọi 119 à? Không, tốt nhất vẫn cứ nên gọi 110 trước… đầu óc Tagawa hỗn loạn bùng nhùng. Ngoài ông nội chết bệnh ra, anh ta vẫn chưa từng thấy cái xác nào khác. Sau khi quay số 1, 1, anh ta thoáng do dự giây lát, rồi đưa ngón trỏ nhấn vào số 0. Đúng lúc ấy, có tiếng “chết rồi ạ?” phía ngoài cửa vọng vào.
Nishimoto Yukiko đứng ở chỗ tháo giày. Cánh cửa mở ra, ánh sáng ngược khiến Tagawa không nhìn rõ được nét mặt cô bé.
“Mẹ cháu chết rồi ạ?” Cô bé lại hỏi thêm lần nữa, giọng nói đã pha lẫn tiếng khóc nghẹn ngào.
“Giờ vẫn chưa biết được.” ngón tay Tagawa dịch từ số 0 sang số 9, dứt khoát quay số.
Read more ...

Chủ nhật, ngày 18 tháng mười hai năm 2011

Bạch dạ hành (7)


7.
Một tháng trôi qua mà không có tiến triển gì. Các thành viên tổ chuyên án sau nhiều ngày ngủ lại cơ quan dần dần trở về nhà, Sasagaki cũng ngâm mình trong chiếc bồn tắm lớn đã lâu không sử dụng đến của nhà mình. Ông và vợ sống trong khu căn hộ ở trước cửa ga Kintetsu Yao, Katsuko, vợ ông lớn hơn ông ba tuổi. Hai người vẫn chưa có con.
Sáng sớm hôm sau, Sasagaki đang ngủ trong chăn thì bị tiếng ồn làm thức giấc, Katsuko đang thay quần áo, kim đồng hồ vừa chỉ ba bảy giờ. “Sớm vậy, mình làm gì thế? Định đi đâu à?” Sasagaki nằm trong chăn hỏi.
“À! Xin lỗi, đánh thức mình rồi. Em ra siêu thị mua đồ.”
“Mua đồ? Sớm thế à?”
“Không đi sớm xếp hàng, không khéo lại không kịp mất.”
“Không kịp? Mình mua gì thế?”
“Còn phải hỏi à? Dĩ nhiên là mua giấy vệ sinh rồi.”
“Giấy vệ sinh rồi.”
“Hôm qua em cũng đi rồi. Quy định là mỗi người chỉ được mua một gói, thực ra em cũng muốn gọi mình cùng đi đấy.”
“Mua nhiều giấy vệ sinh thế làm gì?”
“Không có thời gian giải thích với mình nữa, em đi trước đây.” Katsuko khoác chiếc áo len lông cừu cài khuy lên, rồi cầm ví tiền vội vội vàng vàng đi ra cửa.
Sasagaki chẳng hiểu gì cả. Dạo gần đây trong đầu ông chỉ nghĩ chuyện điều tra phá án, gần như không quan tâm trên thế giới đang xảy ra chuyện gì. Nguồn cung dầu bị thiếu, chuyện này thì ông có nghe nói rồi, nhưng ông không hiểu tại sao phải đi mua giấy vệ sinh, lại còn vừa sáng sớm đã đi xếp hàng nữa. Đợi Katsuko về phải hỏi kỹ mới được, ông thầm nhủ trong lòng, rồi nhắm mắt trở lại.
Chỉ một chốc sau, chuông điện thoại reo lên. Ông lật người trong vchăn, vươn tay ra với lấy chiếc điện thoại màu đen để ở đầu giường. Đầu hơi nhức, hai mắt vẫn nhập nhèm chưa mở ra được: “Alô, nhà Sasagaki nghe đây.”
Mười giây sau, cả người ông bật lên khỏi đống chăn, cơn buồn ngủ đã hoàn toàn tan biến.
Cú điện thoại đó là để về cái chết của Terasaki Tadao.
Terasaki chết trên đường cao tốc Osaka Kobe. Vòng cua không đủ rộng, húc vào dải phân cách, một trường hợp không tỉnh táo khi lái xe điển hình.
Lúc đó trên xe chở hàng của anh ta có một lượng lớn xà phòng và thuốc tẩy rửa. Sau này Sasagaki mới biết, sau giấy vệ sinh, dân chúng bắt đầu tranh nhau mua tích trữ các loại sản phẩm này, vì khahcs hàng muốn nhập thêm nữa, Tesrasaki đã không ngủ nghỉ gì, đi khắp nơi thu xếp kiếm mối hàng.
Sasagaki và mấy người nữa đến nơi ở của Terasaki lục soát, định tìm vật chứng liên quan đến vụ sát hại Kirihara Yosuke, nhưng không thể phủ nhận, đó là một hành động khiến người ta có cảm giác uổng công phí sức. Dù có phát hiện gì chăng nữa, thì hung thủ cũng không còn trên thế gian này nữa.
Không lâu sau đó, một cảnh sát phát hiện ra vật chứng quan trọng bên trong thùng xe chở hàng: chiếc bật lửa Dunhill, hình chữ nhật, góc cạnh rõ ràng. Mọi thành viên tổ chuyên án đều nhớ rõ, Kirihara Yosuke cũng bị mất một cái y hệt như thế. Thế nhưng, trên chiếc bật lửa này không phát hiện ra vân tay của Kirihara Yosuke. Nói một cánh chính xác hơn, trên đó không có vân tay của bất cứ người nào… hình như đã được lau bằng vải hay thứ gì đó tương tự.
Cảnh sát cho Kirihara Yaeko xem chiếc bặt lửa đỏ, nhưng chị ta chỉ hoang mang lắc đầu nói, giống thì giống thật đấy, nhưng không thể khẳng định có phải đúng là vật của chồng mình hay không.
Phía cảnh sát như có lửa đốt trong lòng, lại gọi Nishimoto Fumyo đến thẩm vấn, tìm đủ mọi cách khiến cô ta thừa nhận. Viên thanh tra phụ trách thẩm vấn thậm chí còn ngấm ngầm ám chỉ, chiếc bật lửa đó đích thực là của Kirihara.
“Dù suy luận thế nào, thì Terasaki có thứ này cũng là một điều hết sức kỳ qúai. Không phải cô lấy trên người nạn nhân đưa cho anh ta, thì là Terasaki tự lấy, chỉ có hai khả năng này thôi. Rốt cuộc là thế nào? Cô nói đi!” Viên thanh tra phụ trách thẩm vấn đưa bật lửa cho Nishimoto Fumiyo xem, ép cô ta phải khai nhận.
Nhưng Nishimoto vẫn một mực phủ nhận, thái độ không hề dao động chút nào. Cái chết của Terasaki có lẽ khiến cô ta bị đả kích không nhẹ, nhưng từ thái độ của ôc ta, không hề nhận ra vẻ gì là ngập ngừng do dự cả.
Nhất định là có lầm lẫn ở đâu đó, chúng ta đã đi vào một con đường hoàn toàn sai lầm… Sasagaki đứng bên cạnh quan sát toàn bộ quá trình thẩm vấn, tự nhủ.
Read more ...

Thứ sáu, ngày 16 tháng mười hai năm 2011

untitled 3


Ngộ nhỉ?

...
“Mười ngày trước.” Người đàn ông đáp, “còn một việc nữa, cũng hơi khó mở miệng, song tôi nghĩ tốt nhất vẫn nên nói trước với cô thì hơn.”
“Dù là việc gì, xin ông cứ nói ra.”
“Trong thời gian cơ bắp ở trạng thái chết giả ấy, tôi luôn cương cứng.”
Aomame nhíu mày sâu hơn nữa. “Có nghĩa là, trong mấy tiếng đồng hồ liền, cơ quan sinh dục của ông luôn dựng đứng lên?”
“Đúng thế.”
“Nhưng ông không có cảm giác gì?”
“Không có cảm giác.” Người đàn ông nói, “cũng không có ham muốn tình dục. Chỉ dựng đứng lên, như một cục đá. Chẳng khác gì các cơ bắp khác.”
Aomame lắc lắc đầu, cố gắng khiến gương mặt mình khôi phục lại trạng thái bình thường. “Về vấn đề này, tôi nghĩ tôi cũng không giúp được gì. Việc này và lĩnh vực chuyên nghiệp của tôi cách nhau xa quá.”
“Tôi cũng cảm thấy thật khó mở miệng, mà có lẽ cô cũng không muốn nghe, chỉ là, cô có thể nghe tôi nói thêm mấy câu nữa không?”
“Mời ông cứ nói. Tôi sẽ giữ bí mật.”
“Trong khoảng thời gian ấy, tôi sẽ giao hợp với các cô gái.”
Các cô gái?”
“Bên cạnh tôi có không chỉ một người đàn bà. Khi tôi rơi vào trạng thái ấy, bọn họ sẽ lần lượt cưỡi lên cơ thể không thể nhúc nhích của tôi để giao hợp. Tôi không cảm giác được gì, cũng không có khoái cảm. Nhưng tôi vẫn phóng tinh. Phóng tinh nhiều lần.”
Aomame trầm ngâm.
Người đàn ông lại tiếp lời: “Tổng cộng có ba người, đều khoảng mười mấy tuổi. Có lẽ cô sẽ lấy làm khó hiểu, tại sao bên cạnh tôi lại có các cô gái trẻ như thế, tại sao bọn họ phải giao hợp với tôi?”
“Lẽ nào là… một phần của hành vi tôn giáo?”
Người đàn ông vẫn ngồi khoanh chân trên giường, thở hắt ra một hơi dài. “Trạng thái tê liệt ấy của tôi được coi là ân huệ của Trời cao, một thứ trạng thái thần thánh. Vì vậy, khi tôi lâm vào trạng thái đó, họ liền đến giao hợp với tôi, hy vọng có thể hoài thai, sinh ra người kế tục tôi.”
Aomame không nói gì, chỉ nhìn chằm chằm vào người đàn ông đối diện. Ông ta không mở miệng nữa.
“Ý ông là, mục đích của họ là mang thai? Hoài thai đứa con của ông trong trạng thái đó?” Aomame hỏi.
“Đúng thế.”
“Tức là, trong mấy tiếng đồng hồ rơi vào trạng thái tê liệt đó, ông giao hợp với ba cô gái, phóng tinh ba lần.”
“Đúng thế.”
Read more ...

Thứ tư, ngày 07 tháng mười hai năm 2011

Một kẻ không biết yêu thương người khác, thì không thể tự yêu chính mình được.


“Con đã quá mệt mỏi với cuộc sống căm ghét người khác, thù hận người khác rồi. Con mệt mỏi với cuộc sống mà không thể yêu thương một ai này. Thậm chí con còn không có một người bạn, một người cũng không. Quan trọng nhất là, con còn không thể yêu nổi chính bản thân mình. Tại sao lại không thể yêu bản thân mình chứ? Bởi vì con không thể yêu thương người khác. Người ta cần phải yêu thương một ai đó, và được một ai đó yêu thương, rồi thông qua đó để học cách tự yêu chính mình. Bố có hiểu ý con không? Một kẻ không biết yêu thương người khác, thì không thể tự yêu chính mình được. Không, con nói những điều này không phải để trách móc bố. Nghĩ kỹ lại, có lẽ bố cũng là một trong những nạn nhân. Chắc hẳn, bố cũng không biết phải yêu bản thân mình như thế nào. Chẳng phải vậy sao?”
Read more ...

Thứ ba, ngày 06 tháng mười hai năm 2011

Bạch dạ hành (6)


6
Tiệm Kikuya có cánh cửa bằng gỗ bạch là một tiệm mỳ ô long sạch sẽ mát mẻ. Ngoài cửa treo một tấm vải che màu xanh sẫm, bên trên đề tên quán bằng chữ màu trắng. Cửa tiệm làm ăn có vẻ rất tốt, mới sáng đã có khách đến, đến tận hơn một giờ chiều, khách vẫn cứ ra vào nườm nượp.
Một giờ rưỡi, một chiếc xe chở hàng màu trắng dừng lại ở chỗ cách cửa tiệm một quãng xa xa. Trên thân xe sơn một hàng chữ đen lớn “ Thương mại Ageha”.
Người đàn ông ngồi sau vô lăng xuống xe, anh ta mặc áo jacket màu xám, dáng người lùn đậm, thoạt trông khoảng chừng bốn mươi tuổi. Bên trong áo jacket là sơ mi trắng, đeo cà vạt. Người đàn ông ấy đi thẳng vào tiệm Kikuya với dáng điệu vội vã.
“Tin tức quả không sai, đúng là xuất hiện vào khoảng một giờ rưỡi.” Sasagaki nhìn đồng hồ, khâm phục nói. Ông đang ngồi trong quán cà phê đối diện với tiệm Kikuya, từ đây có thê quan sát phía bên ngoài qua cửa kính.
“Còn một thông tin bổ sung nữa, y đang ở trong đó ăn mì tempura.” Người vừa lên tiếng là viên cảnh sát hình sự Kanamura ngồi đối diện với Tengo. Anh mỉm cười, để lộ rõ hàm răng bị thiếu một chiếc răng cửa.
“Ừm, y ăn chẳng biết chán gì cả nhỉ.” Ánh mắt Sasagaki dịch chuyển trở lại phía tiệm Kikuya. Nhắc đến mì ô long làm ông thấy đói.
Tuy Nishimoto Fumiyo có chứng cứ vắng mặt tại hiện trường, nhưng sự nghi ngờ đối với cô ta cũng không được loại trừ hoàn toàn. Vì người cuối cùng Kirihara Yosuke gặp lúc còn sống chính là cô ta, vì vậy tổ chuyên án thuỷ chung vẫn nghi ngờ người phụ nữ này. Nếu cô ta có liên quan đến án mạng của Kirihara, điều đầu tiên  họ nghĩ tới, chính là cô ta ắt hẳn phải có đồng phạm. Bà quả phụ Fumiyo có tình nhân trẻ tuổi hay không… cảnh sát đã dựa trên suy luận này để làm xuất phát điểm điều tra, cuối cùng phát hiện ra Terasaki Tadao.
Terasaki chuyên bán buôn đồ trang điểm, mỹ phẩm, nước gội đầu và thuốc tẩy rửa. Không chỉ rao buôn cho các tiệm bán lẻ, mà còn nhận đơn đặt hàng trực tiếp của khách, rồi tự mình đưa hàng tới. Tuy có công ty tên là “Thương mại Ageha”, nhưng ngoài anh ta ra thì không còn nhân viên nào khác.
Cảnh sát để ý đến Terasaki, là bởi họ nghe ngóng được một số tin đồn ở khu nhà Yoshida nơi Nishimoto Fumiyo ở. Các bà nội trợ gần đó đã mấy lần trông thấy một người đàn ông lái xe chở hàng màu trắng vào nhà của Nishimoto. Một bà nội trợ nói, trên xe chở hàng dường như có đề tên công ty, chỉ là chị ta cũng không nhìn rõ lắm. Cảnh sát tiếp tục giám thị ở xung quanh khu nhà Yoshida, nhưng chiếc xe chở hàng được nhắc đến ấy mãi vẫn không xuất hiện. Về sau, mới phát hiện ra chiếc xe khả nghi đó ở nơi khác. Một người đàn ông ngày nào cũng đến tiệm mỳ Kikuya nơi Fumiyo làm việc chính là lái xe trở hàng màu trắng. Từ tên công ty “Thương mại Ageha” trên thân xe, lập tức có thể điều tra ra thân phận của người đàn ông ấy.
“Ừm, ra rồi.” Koga nói.
Terasaki bước ra khỏi Kikuya, nhưng không trở lại xe ngay, mà đứng phía trước cửa tiệm. Điều này cũng giống với những gì được ghi trong báo cáo của nhóm Kanamura. Không lâu sau, Fumiyo đeo tạp dề trấng từ trong tiệm bước ra. Hai người nói với nhau vài câu rồi Fumiyo trở vào trong tiệm, Terasaki đi về phía ô tô, cả hai đều không có vẻ gì là chú ý đến ánh mắt của những người khác.
“Ừm, đi thôi.” Sasagaki dụi điếu thuốc Peace vào gạt tàn, nhổm người đứng dậy.
Terasaki vừa mở cửa xe, Koga liền cất tiếng gọi. Terasaki ngạc nhiên trợn tròn hai mắt, kế đó lại trông thấy Sasagaki và Kanamura, nét mặt liền cứng đờ lại.
Cảnh sát nói muốn hỏi vài vấn đề, Terasaki tương đối hợp tác. Hỏi anh ta xem có muốn tìm cửa tiệm nào đó ngồi không, nhưng Tarasaki nói ngồi trong xe luôn cũng được. Vậy là, bốn người bèn chui vào xe chở hàng của anh ta. Terasaki ngồi trên ghế lái, ghế phụ là Sasagaki, Koga và Kanamura ngồi ghế sau.
Trước tiên, Sasagaki hỏi anh ta có biết vụ án ông chủ tiệm cầm đồ bị sát hại xảy ra ở Oe hay không, Terasaki nhìn thẳng về phía trước, gật gật đầu. “Tôi xem trên báo và ti vi rồi. Nhưng vụ án đó thì liên quan gì tới tôi chứ?”
“Nơi nạn nhân Kirihara xuất hiện lần cuối cùng là nhà của chị Nishimoto. Anh quen chị Nishimoto đúng không?”
Có thể nhận thấy rõ Terasaki đang nuốt một ực một ngụm nước bọt, anh ta đang nghĩ xem phải trả lời như thế nào. “Chị Nishimoto… ý anh là, người phụ nữ làm việc trong tiệm mì ô long đó hả? Đúng, có thể coi như tôi quen biết chị ấy.”
“Chúng tôi cho rằng, chị Nishimoto có thể liên quan đến vụ án này.”
“Chị Nishimoto? Sao có thể được chứ?” Terasaki lộ ra nụ cười chỉ có khoé miệng hơi nhếch lên một chút.
“Hả, có vấn đề gì sao?”
“Dĩ nhiên, chị ấy làm sao lại liên quan đến một vụ án mạng như thế được chứ.”
“Hai người chỉ coi như là có qune biết, sao anh lại nói hộ chị Nishimoto đó thế?”
“Tôi đâu có nói hộ gì chứ.”
“Có người thường thấy một chiếc xe chở hàng màu trắng ở gần khu chung cư Yoshida, còn nói người lái xe thường xuyên ra vào nhà chị Nishimoto. Anh Terasaki, có phải đó là anh không?”
Câu hỏi của Sasagaki rõ ràng đã khiến Terasaki hết sức bối rối. Anh ta liếm liếm môi, nói: “Tôi tìm chị ấy vì công việc thôi.”
“Công việc.”
“Tôi giao các thứ chị ấy mua tới, mây thứ kiểu như đồ trang điểm và thuốc tẩy rửa, chỉ có vậy thôi.”
“Anh Terasaki, đừng nói dối nữa. Chuyện này chỉ cần điều tra một chút là biết ngay. Người mục kích nói, anh đến chỗ chị Nishimoto khá nhiều lần, không phải vậy sao? Đồ trang điểm và thuốc tẩy rửa cần phải đưa thường xuyên như thế à?”
Terasaki hay tay ôm trước ngực, mắt nhắm lại, đại khái chắc đang suy nghĩ xem nên trả lời thế nào.
“Anh Terasaki này, giờ mà anh nói dối, thì sẽ phải tiếp tục nói dối mãi. Chúng tôi sẽ tiếp tục giám sát anh chặt chẽ, cho đến khi nào anh gặp chị Nishimoto.Như vậy anh sẽ xử lý thế nào? Anh định cả đời này không gặp chị ấy nữa sao? Anh làm được không? Phiền anh nói thực cho chúng tôi biết, quan hệ của anh và chị Nishimoto có gì không bình thường?”
Terasaki trầm ngâm một lúc lâu. Sasagaki không nói gì, chỉ lặng lẽ quan sát phản ứng của đối phương.
Cuối cùng, Terasaki thở hắt ra một hơi, mở mắt. “Tôi nghĩ như vậy cũng chẳng có vấn đề gì. Tôi độc thân, còn chồng cô ấy cũng chết rồi.”
“Co thể giải thích là quan hệ nam nữ không?”
“Chúng tôi qua lại một cách nghiêm túc.” Giọng Terasaki hơi rít lên.
“Bắt đầu từ khi nào?”
“Cả chuyện này cũng phải nói à?”
“Xin lỗi, để làm tư liệu tham khảo thôi.” Sasagaki nhoẻn miệng nở một nụ cười điềm đạm.
“Khoảng nửa năm trước.” Terasaki đanh mặt lại trả lời.
“Vì duyên cớ gì mà bắt đầu quan hệ?”
“Chẳng có gì đặc biệt cả. Thường gặp nhau trong cửa tiệm, rồi quen.”
“Chị Nishimoto có nói gì về ông Kirihara với anh không?”
“Chỉ nói, đó là ông chủ tiệm cầm đồ cô ấy hay tới.”
“Chị Nishimoto có nhắc đến việc ông ấy thường xuyên đến nhà mình hay không?”
“Cô ấy nói, ông ta có đến vài lần.”
“Nghe chị ấy nói thế, anh có cảm nghĩ gì?”
Câu hỏi của Sasagaki khiến Terasaki nhíu mày lại tỏ vẻ không vui: “Ý anh là sao?”
“Anh không cho rằng ông Kirihara có ý đồ khác gì sao?”
“Nghĩ mấy chuyện đó thì ích gì? Fumiyo chẳng bao giờ để ý đến ông ta cả.”
“Nhưng chị Nishimoto hình như đã nhận khá nhiều sự chiếu cố của ông Kirihara, nói không chừng cũng nhận cả trợ giúp về mặt tiền bạc nữa. Như vây, nếu đối phương bức bách quá, chẳng phải là rất khó từ chối sao?”
“Chuyện này tôi chưa bao giờ nghe nói tới. Xin hỏi, rốt cuộc anh muốn nói gì vậy?”
“Chúng tôi chỉ suy launạ theo lẽ thường, có một người đàn ông thường xuyên ra vào nhà người phụ nữ anh có qua lại, người phụ nữ đó vì thường xuyên nhận được ưu đãi đặc biệt từ ông ta, nên cũng không thể tiếp đón qua loa cho có lệ. Về sau, người đàn ông ấy lại được đằng chân lân đằng đầu cứ liên tục bức bách, nếu bạn trai người phụ nữ đó mà biết chuyện này, nhất định là sẽ rất tức giận…”
“Vì vậy tôi nhất thời nổi xung lên, đã  đi giết người, có phải không? Xin anh đứng nói linh tinh nữa, tôi đâu có ngu đến mức đó.” Terasaki cao giọng lên, làm chấn động cả không gian chật hẹp bên trong chiếc xe trở hàng nhỏ.
“Đây thuần tuý chỉ là suy đoán, nếu như khiến anh cảm thấy khó chịu trong lòng, thì tôi rất xin lỗi. Phải rồi, khoảng sáu đến bảy giờ tối ngày thứ Sáu, mười hai tháng này, anh đang ở đâu?”
“Điều tra chứng cứ vắng mặt tại hiện trường à?” Terasaki tức đến nỗi khoé mắt xếch lên.
“Đúng vậy.” Sasagaki cười cười với anh ta. Vì dạo này phim hình sự rất thịnh hành, cụm từ “chứng cứ vắng mặt tại hiện trường” đã trở nên rất thông dụng.
Terasaki lấy ra một cuốn sổ nhỏ, mở phần lịch ngày ra. “Chiều tối ngày mười hai tôi ở Toyonaka, đi đưa hàng cho khách.”
“Mấy giờ?”
“Tôi nghĩ, đến đó là khoảng gần sáu giờ.”
Nếu đúng là sự thật, vậy thì anh ta có chứng cứ vắng mặt tại hiện trường. Chuyến này lại hụt nữa rồi, Sasagaki nghĩ. “Anh giao hàng cho khách chưa?”
“Chưa, hôm ấy bị lỡ hẹn với khách.” Terasaki đột nhiên trở nên hàm hồ, “đối phương không có nhà, tôi kẹp danh thiếp ở cửa rồi trở về.”
“Đối phương có biết anh sẽ đến không?”
“Tôi nhớ là đã có liên lạc rồi. Trước đó, tôi có gọi điện báo là ngày mười hai sẽ đưa hàng tới, không ngờ lại uổng công một chuyến.”
“Nói như vậy, anh không gặp ai ở đó mà đã trở về luôn, phải không?”
“Đúng thế, nhưng tôi đã để lại danh thiếp.”
Sasagaki vừa gật đầu vừa thầm suy nghĩ, những chuyện này để bố trí sau lúc nào chẳng được. Sau khi hỏi Terasaki địa chỉ và phương thức liên lạc với người khách kia, Sasagaki bèn thả cho anh ta đi.
Về tổ truyên án báo cáo xong, như thường lệ, Nakatsuka lại hỏi xem cách nhìn của Sasagaki với sự việc này như thế nào.
“Năm mươi năm mươi.” Sasagaki thành thực trả lời, “không có chứng cứ vắng mặt tại hiện trường, lại có động cơ gây án. Nếu cùng Nishimoto Fumiyo bắt tay gây án, hẳn là có thể tiến hành một cách thuận lợi. Chỉ có một điểm tương đối kỳ lạ: Nếu bọn họ đúng là hung thủ, vậy thì hành động tiếp sau đấy của hai người này hình như hơi quá khinh suất thì phải. Thông thường, trước khi cho rằng vụ án đã lắng xuống, họ phải cố gắng không tiếp xúc mới phải. Nhưng Terasaki lại vẫn như trước, cứ đến trưa là tới tiệm Fumiyo làm việc ăn mì ô long. Điểm này thì tôi nghĩ không thông được.”
Nakatsuka trầm mặc lắng nghe ý kiến của cấp dưới. Cặp môi khép chặt chễ xuống ở hai đầu, chứng minh ông cũng có cùng một ý kiến như thế.
Cảnh sát tiến hành điều tra triệt để đối với Terasaki: Anh ta sống một mình trong căn hộ thuê ở quận Hirano, từng kết hôn, năm năm trước đã thoả thuận ly hôn. Đánh giá của khách hàng đối với anh ta rất tốt: làm việc nhanh nhẹn, yêu cầu khó khăn thế nào cũng đáp ứng được, giá cả lại rất thấp. Đối với các chủ cửa hàng bán lẻ, anh ta là nhà cung cấp lý tưởng. Đương nhiên, cũng không thể vì vậy mà nhận định anh ta không thể gây án mạng giết người. Ngoài ra, vì việc làm ăn của anh ta chỉ có thể coi là gắng gượng chèo chống, véo chỗ này bù chỗ kia, ngược lại càng khiến cảnh sát chú ý hơn.
“Tôi nghĩ, Kirihara cứ bám chặt lấy Fumiyo, cố nhiên đã khiến anh ta nảy ra ý định giết người, mà lúc ấy trên người Kirihara còn mang theo một triệu yên, cũng rất có thể đã làm anh ta đỏ mắt.” Viên cảnh sát điều tra tình hình kinh doanh của Terasaki đã phân tích như vậy trong cuộc họp, đại đa số thành viên tổ chuyên án cũng đồng ý với nhận định này.
Sau khi xác nhận, chứng thực Terasaki đích thực không có chứng cứ vắng mặt. Điều tra viên đã đến căn nhà mà anh ta nói là để lại danh thiếp, tìm hiểu được chủ nhà hôm đó đã đi thăm họ hàng ở xa, mãi đến mười một giờ đêm mới về. Trên cửa đúng là có gài một tấm danh thiếp của Terasaki, nhưng như vậy không thể đoán định được anh ta đến đây vào thời điểm nào. Ngoài ra, đối với câu hỏi Terasaki có hẹn trước vào ngày mười hai hay không, bà chủ nhà đó trả lời: “Anh ta nói lúc nào rảnh sẽ đến, nhưng tôi không nhớ là có hẹn vào ngày mười hai.” Thậm chí chị ta còn nói thêm một câu: “Tôi nhớ trong điện thoại có nói với anh Terasaki, ngày mười hai tôi không rảnh.”
Lời khai này có ý nghĩa rất lớn. Terasaki có thể biết rõ khách hàng này không có nhà, nhưng sau khi gây án vẫn đến nhà chị ta để lại danh thiếp, ý đồ nguỵ tạo bằng chứng vắng mặt.
Sự nghi ngờ của các điều tra viên đối với Terasaki, có thể nói đã ở mức báo động.
Thế nhưng, không có chứng cứ nào hết. Trong các sợi lông tóc thu thập được ở hiện trường, không có thứ nào giống với Terasaki cả. Ngoài ra, cũng không có dấu vân tay, không có nhân kích mục kích nào. Giả dụ Nishimoto Fumiyo và Terasaki là đồng phạm, hai  người hẳn phải có liên lạc gì với nhau, nhưng cảnh sát cũng không phát hiện ra được dấu vết gì của việc này. Một vài cảnh sát giàu kinh nghiệm chủ trương bắt giam trước rồi tiến hành thẩm vấn triệt để, có lẽ hugn thủ sẽ cung khia. Nhưng trong tình huống hiện nay, cảnh sát thực sự không thể xin được lệnh bắt.
Read more ...